Nên kinh tê / Tin tức / Xã hội

Chúng ta chỉ là tiền bạc thôi sao?

Loạt bài - Ẩn mình khỏi nền kinh tế

Đã đọc 5 phút Nhận xét
Chúng ta chỉ là tiền bạc thôi sao?

Hãy nhớ câu hỏi "Bạn có giá bao nhiêu?". Ngày nay, việc suy nghĩ theo khía cạnh tiền bạc khá hợp lý, bởi vì tiền có mặt ở khắp mọi nơi – nó là phương tiện thanh toán, thước đo thành công, chỉ số địa vị xã hội, v.v. Điều đó hoàn toàn đúng. Nếu nhìn xung quanh, mọi thứ đều có thể quy đổi thành tiền. Tôi có thể bán chiếc máy tính xách tay mà tôi dùng để viết bài này với một số tiền nhất định. Bạn có thể bán thiết bị mà bạn đang dùng để đọc bài viết này với một mức giá cụ thể. Thậm chí bạn có thể bán khả năng làm việc của mình (sức lao độngvà kiếm tiền chỉ với 5 phút bạn dành để đọc bài viết này.

Thời gian của bạn là tiền bạc. Tùy thuộc vào cách bạn sử dụng nó, bạn có thể kiếm được tiền hoặc mất tiền. (Về mặt lý thuyết, sẽ không có thời điểm trung lập nào mà bạn không kiếm được cũng không tiêu tiền.) Ít nhất là từ góc độ kinh tế. Và những người kiếm được tiền cũng tạo ra tiền – cho chính họ, cho người sử dụng lao động của họ, cho nền kinh tế. Một số người có thể vừa tiêu tiền vừa kiếm tiền, những người khác không thể kiếm tiền nữa, hoặc còn quá trẻ để làm điều đó. Những người khác thì chưa bao giờ có thể kiếm được tiền vì nhiều lý do khác nhau. Sự khác biệt giữa người tạo ra tiền và người không tạo ra tiền trong các cuộc thảo luận kinh tế thông thường là một câu hỏi quan trọng cần được làm rõ nếu chúng ta muốn hiểu liệu chúng ta chỉ là tiền.

Tiếp theo Không có tiền, không có tầm quan trọng Theo logic, ta có thể nói rằng, dựa trên các cuộc tranh luận kinh tế thông thường, xã hội có thể được chia thành hai nhóm: những người kiếm tiền không kiếm tiềnNói một cách đơn giản, những người tạo ra tiền là những người trực tiếp đóng góp vào sự phát triển của quá trình tạo ra tiền. Họ là những người tham gia tích cực vào nền kinh tế theo cách này hay cách khác. Còn những người không tạo ra tiền là những người không tích cực đóng góp vào quá trình tạo ra tiền. Liên quan đến công việc như một quá trình tạo ra tiền, nhìn chung có ba nhóm thuộc loại không tạo ra tiền – người lao động tương lai (trẻ em, những người sẽ tham gia lực lượng lao động khi đủ tuổi, và những người thất nghiệp), cựu công nhân (ví dụ, người về hưu) và những người không phải công nhân (những người không có khả năng làm việc về thể chất và/hoặc tinh thần). Sự phân biệt này (được minh họa trong sơ đồ bên dưới) đặc biệt hữu ích khi chúng ta cố gắng tìm ra ai còn lại. giấu kín khỏi nên kinh tê.

Xã hội theo quan điểm kinh tế chính thống, Hình minh họa của tác giả.

Vậy ai vẫn còn bị che khuất khỏi nền kinh tế? Người lao động tích cực không hề bị loại trừ khỏi các cuộc tranh luận kinh tế, vì họ là xương sống của nền kinh tế. Về mặt logic, dường như nếu những người tạo ra tiền là quan trọng, thì những người không tạo ra tiền lại không quan trọng. Tuy nhiên, trong số những người không tạo ra tiền, có một nhóm người vẫn chưa bị nền kinh tế bóc lột – đó là những người... người lao động tương laiHiện tại họ không tích cực tham gia vào nền kinh tế, không kiếm được tiền, nhưng họ có khả năng làm được điều đó trong tương lai. Họ được xem là những khoản đầu tư dài hạn, mà đến một lúc nào đó sẽ có giá trị ngang bằng, thậm chí còn quan trọng hơn cả những người lao động hiện tại.

Trong kinh tế học truyền thống có một thuật ngữ phổ biến gọi là... nguồn nhân lực Điều này thể hiện giá trị kinh tế của một người dựa trên kỹ năng, kiến ​​thức, khả năng và địa vị của họ. Nói một cách đơn giản, như nguồn nhân lực Có thể coi đây là một bộ phận của xã hội trực tiếp đóng góp hoặc có thể đóng góp vào sự phát triển của nền kinh tế. Điều này càng làm phân chia xã hội theo quan điểm kinh tế truyền thống. Điều thú vị về thuật ngữ này là nó chỉ bao gồm những người giá trị cho nền kinh tế. Sau đó nguồn nhân lực Đây sẽ là bộ phận của xã hội có ích cho nền kinh tế khi nói đến quá trình tạo ra tiền. Sau đó, một bộ phận khác không tạo ra tiền lại được coi trọng hơn những người còn lại – trẻ em và người thất nghiệp.

Nguồn lực con người Thuật ngữ này thường được sử dụng để biện minh cho việc đầu tư vào những người có khả năng và/hoặc sẽ có khả năng kiếm tiền. Xét cho cùng, chúng ta biết rằng các khoản đầu tư chỉ được thực hiện nếu chúng mang lại lợi nhuận nhiều hơn số vốn đã đầu tư. Do đó, việc đầu tư vào những người có khả năng kiếm tiền là điều hợp lý. Mặc dù việc đầu tư vào một cá nhân (ví dụ, dưới hình thức giáo dục hoặc đào tạo) có thể không trực tiếp dẫn đến lợi nhuận và kiếm tiền, nhưng trong tương lai, người đó có khả năng trở nên có trình độ và kỹ năng cao hơn, từ đó năng suất hơn cho nền kinh tế. Vốn con người, khi đó, chỉ là bộ phận của xã hội có khả năng kiếm tiền (nhiều hơn số vốn đã đầu tư vào họ) (xem sơ đồ bên dưới).

Vốn con người là một phần của xã hội. Hình minh họa của tác giả.

Điều này dẫn đến một vấn đề khác – còn những người còn lại trong xã hội thì sao? Những người không chủ động kiếm tiền? Nghịch lý ở đây là – tại sao họ vừa bị nền kinh tế gạt bỏ (do thiếu giá trị kinh tế trực tiếp), lại vừa thiết yếu cho sự tái sản xuất của nó? Chúng ta hãy nhớ rằng sự tái sản xuất của xã hội là điều kiện tiên quyết cho sự tái sản xuất của nền kinh tế. Sự tái sản xuất của xã hội là một tổng thể, không chỉ là những bộ phận của xã hội được lựa chọn bởi nền kinh tế. Trong khi một số bộ phận của xã hội (nguồn nhân lực(Điều này được nền kinh tế quan tâm và thực sự được chú trọng trong mọi cuộc thảo luận kinh tế, trong khi các khía cạnh khác vẫn bị che khuất, bất chấp tầm quan trọng của chúng. Nếu nền kinh tế không quan tâm đến...) vốn phi nhân lựcthì ai làm?

Ai quan tâm đến những người không tạo ra lợi nhuận? – một câu hỏi thường bị bỏ qua do những truyền thống kinh tế - xã hội ăn sâu vào tiềm thức, bắt nguồn từ nhiều năm chăm sóc gia đình theo lối sống truyền thống. Tuy nhiên, trong thời đại hội nhập thị trường toàn cầu, câu hỏi này cần được quan tâm hơn bao giờ hết. Mặc dù có nhiều câu trả lời khác nhau, tùy thuộc vào khu vực trên thế giới (hoặc thậm chí cả châu Âu) mà người ta đến từ, nhưng có một điều nổi bật – không kiếm tiền Các nhóm người này được các đối tượng khác nhau chăm sóc theo những cách khác nhau, chủ yếu tùy thuộc vào đóng góp của họ cho nền kinh tế. Và thông thường, những người đóng góp ít nhất lại là những người cần được chăm sóc nhiều nhất. Tôi sẽ đề cập đến vấn đề này trong bài viết tiếp theo.