Liên minh châu Âu Theo dữ liệu chính thức của EU gửi cho Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) và phân tích của Cơ quan Môi trường châu Âu (EEA) được công bố hôm nay, lượng khí thải nhà kính đã giảm thêm 3% trong giai đoạn từ năm 2023 đến năm 2024, đưa tổng mức giảm phát thải của EU xuống còn 40% so với mức năm 1990. Báo cáo kiểm kê khí nhà kính của EU đã được Cơ quan Môi trường châu Âu (EEA) chuẩn bị và đệ trình lên cơ quan Liên Hợp Quốc thay mặt cho EU vào ngày 15 tháng 4.
Theo một báo cáo, trong 34 năm qua, sự suy giảm tổng thể lượng khí thải ròng trong nước của EU chủ yếu là do tỷ lệ năng lượng tái tạo tăng lên, việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch ít phát thải carbon hơn, hiệu quả năng lượng được cải thiện và những thay đổi cấu trúc kinh tế. tóm tắt EEA Phân tích dữ liệu phát thải. Hầu hết các quốc gia thành viên đều đã đóng góp vào việc giảm phát thải.
Các xu hướng và động lực chính
Mức cắt giảm tuyệt đối lớn nhất xảy ra ở các lĩnh vực sản xuất điện và nhiệt, sản xuất công nghiệp và xây dựng, đốt nhiên liệu sinh hoạt và sắt thép (bao gồm cả khí thải liên quan đến năng lượng).
Lượng khí thải từ giao thông đường bộ đã tăng lên đối với cả vận tải hành khách và hàng hóa, bất chấp sự xuất hiện của các phương tiện hiệu quả hơn và xe điện, do tốc độ tăng trưởng nhu cầu vận tải vượt xa những lợi ích đạt được.
Lượng khí thải hydrofluorocarbon (HFC) từ hệ thống làm lạnh và điều hòa không khí đã tăng mạnh từ năm 1990 đến năm 2014 nhưng đã giảm trong mười năm liên tiếp, nhờ vào các biện pháp giảm dần và loại bỏ khí F-gas gần đây của EU.
Khả năng hấp thụ carbon ròng của rừng đã suy giảm chủ yếu do rừng già (tăng trưởng hàng năm thấp hơn), khai thác gỗ gia tăng và tác động của biến đổi khí hậu.

Ngành năng lượng là động lực chính thúc đẩy giảm phát thải.
Sản xuất điện và nhiệt, khu dân cư và công nghiệp đã đóng góp ba mục tiêu giảm phát thải hàng đầu.
Lượng khí thải từ sản xuất điện và nhiệt đã giảm 58% kể từ năm 1990, phản ánh những cải thiện về hiệu quả và sự chuyển đổi sang các loại nhiên liệu có hàm lượng carbon thấp hơn.
Từ năm 1990 đến năm 2024, việc sử dụng nhiên liệu rắn và lỏng tại các nhà máy nhiệt điện giảm lần lượt 68% và 86%, trong khi việc sử dụng khí tự nhiên tăng 44% (mặc dù lượng khí thải từ khí đốt đã giảm gần 18% kể từ năm 2022). Lượng tiêu thụ than năm 1990 cao hơn gấp ba lần so với năm 2024.
Tỷ trọng năng lượng tái tạo trong sản xuất điện và nhiệt đã tăng lên đáng kể, và CO22 Lượng tiêu thụ trên mỗi đơn vị năng lượng hóa thạch được sản xuất đã giảm.
Sự sụt giảm đáng kể trong lĩnh vực nhà ở là do khả năng cách nhiệt của các tòa nhà tốt hơn, hiệu quả năng lượng được cải thiện và mùa đông ấm hơn, dẫn đến nhu cầu sưởi ấm không gian giảm xuống.
Đóng góp chính sách
Các chính sách của EU và các quốc gia thành viên là nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm này: các biện pháp về nông nghiệp và môi trường từ những năm 1990, và các chính sách về khí hậu và năng lượng từ năm 2005. Đặc biệt, điều này bao gồm Hệ thống Thương mại Phát thải của EU (ETS) và các biện pháp quốc gia đối với các lĩnh vực nằm ngoài ETS.
Để biết thêm thông tin
Xin lưu ý: Lượng phát thải ròng trong nước được phản ánh trong bản kiểm kê khí nhà kính không bao gồm phát thải từ hàng không hoặc hàng hải quốc tế. Do đó, chúng không thể so sánh trực tiếp với phạm vi mục tiêu giảm phát thải của Luật Khí hậu Châu Âu cho năm 2030 (giảm ròng 55%), vì mục tiêu sau bao gồm một phần phát thải từ hàng không và hàng hải quốc tế.
